mau biet thu dep tai quan 2

Thiet ke nha pho mat tien 7m

thiet ke biet thu dep 3 tang

nha pho dep 4 tang tai sai gon

Tu van xay nha dep tai tphcm

Cong ty xay nha dep

Thiet ke va thi cong nha dep tai tphcm

Mau thiet ke nha vuon dep 2016

Mau thiet ke kien truc nha dep 2016

Cong ty xay nha uy tin tai tphcm

thiet ke noi that chung cu

thi cong noi that chung cu

thiet ke nha xuong o tien giang

thi cong nha xuong o dong thap

thiet ke nha xuong o binh chanh

thiet ke nha xuong tai dong nai

mau nha xuong dep

Mau thiet ke nha xuong tai binh duong

Mau thiet ke nha xuong tai tp hcm

thiet ke nha xuong can tho

Cong ty thiet ke nha xuong uy tin

mua ban may tinh tai go vap

Thông tin tổng hợp - Thong tin tong hop

 

   Minimize
People Online People Online:
Visitors Visitors: 0
Members Members: 0
Total Total: 0

Online Now Online Now:

 

   Minimize

free counters

 

   Minimize

 

 

   Minimize
TẠI SAO KHÔNG CÓ INSULIN GENERIC? (PHẦN CUỐI)
4/4/2015 2:16:00 PM by www.hpahcmc.org

BIOSIMILAR, CÓ RẺ HƠN KHÔNG?

Hiện tại, do các sáng chế đã hết hạn, chế phẩm "biosimilars" bắt đầu xuất hiện, phiên bản insulin"biosimilars" glargine của Lilly và Boehringer Ingelheim gần đây đã được chấp thuận ở thị trường của khối liên minh Châu Âu.


Ở Mỹ, các chế phẩm tương tự nhận được sự chấp thuận trước hạn của FDA nhưng chấp thuận cuối cùng vẫn phải treo đến 30 tháng sau, cho tới giữa năm 2016 bởi vì Sanofi đã đâm đơn kiện vi phạm sáng chế.
Trong khi đó, các chế phẩm biosimilar của insulin không được công nhận lại xuất hiện ở các thị trường không quá nghiêm ngặt như Trung Quốc, Ấn Độ và Mexico.
Cho dù các chế phẩm biosimilar của insulin có ảnh hưởng lớn đến Bắc Mỹ, nhưng giá cả của chúng vẫn không rẻ như các thuốc generic, do yêu cầu cần chứng minh tính an toàn và hiệu quả, bao gồm cả các thử nghiệm sinh miễn dịch.
Các nhà kinh tế học dự đoán khả năng giảm giá thành của các chế phẩm biosimilar của insulin không thể vượt quá 20 – 40%, trong khi đó các thuốc generic khác có thể giảm đến 80% giá thành.

CHUỖI CẢI TIẾN LIÊN TỤC

Ngoài ra, các tác giả cho rằng các chế phẩm biosimilarkhông thể thay đổi sự khác biệt cơ bản giữa insulin và nhiều loại thuốc khác đã được sao chép ở nhiều mức độ. 
Việc cải tiến liên tục đã ngăn cản sự hình thành của nền công nghiệp sản xuất insulin generic ở Bắc Mỹ khi các sáng chế hết hạn. Lịch sử của insulin đã không đi theo lập trình cơ bản của bước tiến dược phẩm mà trong đó các độc quyền sáng chế luôn được dự kiến sẽ thay thế bởi các đối thủ generic. 
Thật vậy “Insulin không phải là một thực thể đơn lẻ mà là cả một nhóm các sản phẩm liên quan đến nhau đã tiến hóa thông qua những cải tiến. Các phiên bản mớicủa insulin trở nên an toàn hơn, hiệu quả hơn, hay thuận tiện hơn những chế phẩm trước”
Vì lý do đó mà “các nhà sản xuất generic không thể đầu tư vào sản suất những phiên bản cũ đã lỗi thời của insulin” – BS. Greene và BS. Riggs 
Các nghiên cứu không cho kết quả ổn định đã bị bác bỏ khi chứng minh chế phẩm tương đương có tác động tốt hơn so với NPH hay các insulin regular. Hiệu quả điều trị được coi trọng hơn chi phí, đặc biệt là đối với bệnh nhân không có bảo hiểm y tế đầy đủ. 
Nói chung, khó có thể nói là các bệnh nhân có được sự chăm sóc tốt, nhất là các bệnh nhân không thể mua nổi các chế phẩm insulin (chưa kể đến việc phải mua các máy đo đường huyết có bản quyền và các que thử đường), do chỉ có duy nhất một nhóm thuốc có hiệu quả hơn không đáng kể so với các thuốc, mà lẽ ra phải có dạng generic từ 50, 30 hay 10 năm trước, được các hãng generic tung ra khi bản quyền đã hết hạn. 
Cuối cùng, các tác giả nhận định ”sau khi các thế hệ insulin được cải tiến không ngừng, giá thuốc insulin có thể chấp nhận được không như trước đây, khi mà các nhà bản quyền bán cổ phần của họ với giá 1 đô la để bảo đảm khả năng bệnh nhân mua được loại thuốc thiết yếu này.

Dr Greene reports grant support from the National Science Foundation, the National Library of Medicine, and the National Institutes of Health. Dr Riggs reports grant support from the National Institutes of Health and nonfinancial support from the Johns Hopkins Berman Institute of Bioethics.


Bản dịch của Trần Thu Hà – BV. Chợ Rẫy, Thạc sĩ ĐH Cranfield (UK)
Hiệu đính ThS. Trần Đăng Trình (BV Chợ Rẫy)

N Engl J Med. 2015;372:1171-1175. Available at: 
www.nejm.org.